BUSINESS

Ôtô - Xe máy

    Cây gì ơi! Con gì ơi!



    - Bác có nhớ một thời chúng ta hay nói câu “Trồng cây gì? Nuôi con gì?”.
    - Nhớ chứ, đó là lần đầu tiên chúng ta chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mục đích để tìm ra những sản phẩm nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. Thấm thoắt đã ngót hai chục năm.
    - Thế mà đến nay vẫn loay hoay tìm chưa ra.
    - Thực ra tìm được rồi, nhưng như ca dao có câu: “Tìm em như thể tìm chim. Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông”. Mọi sự tìm tòi bây giờ phải tìm lại.
    - Tức là “tái cơ cấu” đấy nhỉ”?
    - Lạy trời lạy phật, cũng may là đã tìm ra cách này. Nước mình ba phần tư là nông dân, thế mà đến năm nay mới thấy nói cần giảm diện tích trồng lúa từ 7 triệu hécta (2-3 vụ) xuống còn 5 triệu là đủ ăn đủ bán, còn lại trồng các loại cây siêu lợi nhuận hay chăn nuôi, làm dịch vụ, nông dân mới giàu được.
    - Nuôi tôm, tôm chết, nuôi cá, cá ế, mới nuôi được ít cá tầm thì cá TQ nhập lậu vào đến đâu cá ta thua tới đó.
    - Nuôi chim yến thì sao?
    - Bác ơi, dân ta chưa đến tầm ăn yến, không đói nữa, nhưng vẫn lo ăn sạch.
    - Sạch hay độc hại đều do mình. Người dân, nhất là vùng còn chậm phát triển biết nghe ai, chỉ thấy nói phun thuốc này, bón phân nọ cây quả củ lớn nhanh là làm theo. Thời chúng tớ còn đi học, cán bộ kỹ thuật của hợp tác xã hướng dẫn gì làm theo đó, không theo bị phạt. Bây giờ làm gì còn ai bảo nông dân hằng ngày phải làm gì.
    - Bác nói thế, có cả bộ máy quốc gia về nông nghiệp, đủ các cục, vụ, viện, các hội nhà nông, báo đài ngày nào cũng hướng dẫn từng li từng tí.
    - Nhiều thế, lắm “nhà” thế mới “cha chung không ai khóc”. Mình ở thành phố qua truyền thông biết hết cách làm ăn. Còn nông dân mấy ai nghe đài, đọc báo mà làm ruộng. Thượng tầng xã hội cứ bay trên mây, còn hạ tầng dân cày vẫn chân lấm, tay bùn ngoi ngóp trên đồng. Người giàu thì ăn gạo ngoại, thực phẩm nhập. Hai lớp người đang “ly thân” trong một ngôi nhà…

    Chuyện chỉ có ở Việt Nam: Bỏ mặc nông dân mạnh ai nấy làm

    GS Võ Tòng Xuân: Bỏ mặc nông dân mạnh ai nấy làm

    LTS: Những ngày qua vấn đề thực trạng nền nông nghiệp VN đã thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận và nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại… lên tiếng, chúng tôi xin đăng bài phân tích của GS.TS Võ Tòng Xuân về thực trạng nông nghiệp VN hiện nay và bàn một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền nông nghiệp.
    (ĐVO) - "Nhà nước giao tất cả quyền hành xuất khẩu gạo cho một Vinafood 2 - kiêm luôn Hiệp hội Lương thực VN lũng đoạn thị trường lúa gạo trong nước. Họ không lo xây dựng thương hiệu gạo VN, mà lo cạnh tranh dìm giá lúa thấp nhất để hưởng lợi, mặc cho nông dân... đem lúa cho vịt ăn", GS. Võ Tòng Xuân viết.
    Bài 1: Độc quyền ép giá nông dân
    Tình trạng nông nghiệp VN hôm nay thật không sáng sủa, nông dân tiếp tục là nạn nhân của tình trạng này. Có ý kiến cho rằng phải để đời con của nông dân có trình độ học vấn cao hơn mới nhận thức được vấn đề để hội nhập vào nền kinh tế thị trường. Nhưng thực ra, nông dân chỉ là một trong 3 tác nhân đưa đến tình trạng nông nghiệp bi đát hiện nay: (1) Nhà doanh nghiệp tiêu thụ nông sản; (2) Nhà nước chưa có chiến lược và chính sách cần thiết; (3) Bản thân người nông dân chậm đổi mới trong thời đại hội nhập kinh tế thế giới.
    Thứ nhất, nhà doanh nghiệp tiêu thụ nông sản, phần lớn các doanh nghiệp VN không được trang bị kiến thức và kỷ năng kinh doanh nông sản, nên rất thụ động không biết tìm/mở thị trường cho nông sản của mình, không khả năng tổ chức nghiên cứu chế biến nông sản thô (nguyên liệu) thành sản phẩm có giá trị gia tăng có thương hiệu độc đáo để đưa ra thị trường trong nước hoặc quốc tế.

    GS.TS Võ Tòng Xuân.
    Không có những doanh nhân có kỹ năng chuyên môn và có dũng khí để tổ chức được những vùng sản xuất liên hoàn từ ứng dụng khoa học công nghệ, đến tổ chức nông dân sản xuất theo qui trình tiên tiến (GAP), đến xử lý nguyên liệu, bảo quản và chế biến ra thành phẩm có thương hiệu.
    Cả doanh nghiệp và nhà nước đều bỏ rơi nông dân, để mặc họ muốn trồng gì thì trồng, nuôi con gì thì nuôi. Đối nông dân trồng lúa, khi thu hoạch họ lệ thuộc vào thương lái chứ ít có doanh nghiệp nào trực tiếp mua nguyên liệu từ nông dân. Hàng trăm thương lái thu mua lúa với chục giống lúa khác nhau bán lại cho doanh nghiệp chế biến thì làm sao doanh nghiệp có gạo rặc một giống để bán được giá cao?
    Thêm vào đó, máy móc thiết bị chế biến chưa hiện đại nên doanh nghiệp khó có thể có sản phẩm có chất lượng cao, nên giá sản phẩm bán ra thấp.
    Trong khi đó doanh nghiệp “đầu nậu” độc quyền xuất khẩu gạo không thương hiệu của Việt Nam - Vinafood 2 (Tổng công ty Lương thực miền Nam) đi đấu thầu bán gạo cho nước ngoài đã cam tâm hạ thấp giá gạo VN để dành trúng thầu (thí dụ điển hình Bangkok Post ngày 30/4/2013 đưa tin VinaFood 2 trúng thầu với giá 459,75 USD/tấn gạo 25% tấm, rẻ hơn Thái Lan 108,25 USD/tấn cung cấp gạo cho Philippine từ tháng 7 đến 9/2013) thì nhóm độc quyền này phải hạ giá lúa của nông dân thấp xuống mới mua cung cấp được cho Philippine.
    Đối với trái cây thì cũng tương tự như thế, không doanh nghiệp nào tổ chức với nhà vườn để sản xuất, xử lý và bảo quản trái cây tạo thêm giá trị gia tăng, mà chỉ có thương lái mua gom với giá rẻ mạt mà thôi, không kể gì chất lượng hoa quả.
    Thứ hai, Nhà nước chưa có chiến lược và chính sách cần thiết, từ Chính phủ đến Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương dù có chính sách tự do mậu dịch, nhưng trong thực tế lại giao tất cả quyền hành xuất khẩu gạo cho một Vinafood 2 - kiêm luôn Hiệp hội Lương thực VN lũng đoạn thị trường lúa gạo trong nước. Họ không lo xây dựng thương hiệu gạo VN, mà lo cạnh tranh dìm giá lúa thấp nhất để hưởng lợi, mặc cho nông dân “đem lúa cho vịt ăn”.
    Chính sách ruộng đất của nhà nước đặt ra chủ yếu để duy trì hiện trạng sản xuất manh mún nhỏ lẻ, trong khi Luật Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN) hoàn toàn không khuyến khích gì cho nông dân gia nhập Hợp tác như Nghị quyết TW 5, Khóa IX và Nghị quyết TW 26, Khóa X chỉ đạo về kinh tế tập thể và hợp tác hóa nông nghiệp.
    Ở Nhật bản, quốc gia có lực lượng nông dân giàu ngang bằng các thành phần khác trong xã hội, Chính phủ dùng HTXNN làm công cụ xóa nghèo cho nông dân, bằng cách bơm tiền tài trợ sản xuất cho nông dân qua HTX của họ. Nếu chúng ta cũng có HTXNN đều khắp, mỗi khi nhà nước muốn giúp nông dân tạm trử lúa thì chỉ rót tiền về HTX ứng trước tiền cho nông dân chi xài, ai nấy giữ lúa của mình, đến khi giá lúa tốt hơn thì họ bán lúa lấy tiền trả lại nợ cho nhà nước.
    Nhưng việc đáng tiếc nhất là cho đến nay nhà nước, cụ thể là Bộ NN&PTNT, hành động chỉ theo kiểu chắp vá, thấy hư đâu sửa đấy, bị thương chỗ nào băng bó chỗ đấy, không có một chiến lược dài hạn khả thi một cách đồng bộ có hệ thống. Chờ đến khi nào có bệnh dịch Bộ đề nghị cứu trợ vài ngàn tỷ đồng; khi nông dân kêu ca bán lúa không được, Bộ đề nghị cho doanh nghiệp vay không lãi để mua lúa tạm trử; thấy vài nơi có cánh đồng mẫu lớn để bán thuốc, bán phân cho dễ thì Bộ cũng hô hào xây dựng cánh đồng mẫu lớn; và bây giờ thì đang đề nghị “tái cơ cấu nông nghiệp” trồng cây khác thay cho lúa.
    Một chính sách nông nghiệp chỉ biết có cây lúa đã ăn sâu vào xương tủy lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương nhỏ ở nông thôn đã giúp mọi người phá rừng làm lúa, ngăn chận mọi mầm mống đa dạng hóa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mãi cho đến năm 2000 mới nới lỏng cho đa dạng hóa nhưng không cụ thể gì cả.
    Một yếu kém nữa là trong thực tế mọi chương trình phát triển nông nghiệp, Bộ NN&PTNT khuyến khích mạnh ai nấy làm: anh khuyến nông thì hô hào trồng giống này, nuôi con kia mà không mua; anh bán thuốc, bán phân thì lo hô hào nông dân mua dùng, và nông dân thì mạnh ai nấy lo, trăm người trăm vẻ, khi thu hoạch thì có hàng chục giống, mặc sức cho hàng trăm thương lái ép giá. Trong khi đó thì các công ty lương thực của nhà nước thì lo o bế thương lái không đếm xỉa gì đến nông dân.
    Và vì Bộ NN&PTNT cứ làm như thế thì lúa cũng chịu thua, trái cây cũng chịu thua, cà phê cũng chịu thua, cá cũng chịu thua, và do đó nông dân đành bó tay. Không nông sản nào có thương hiệu mạnh được vì chúng đã được sản xuất một cách không đồng bộ, chuỗi giá trị sản xuất bị tháo ra từng khoen không ráp lại được, mạnh anh này lợi dụng anh kia.
    Phải chi chúng ta có tầm nhìn toàn vẹn hơn, thấy sự phát triển theo hệ thống đồng bộ theo chuỗi giá trị từ giống cây con cho đến thị trường trên bàn ăn của người tiêu dùng trong nước và thế giới. Thí dụ, đối với mặt hàng gạo, chuỗi giá trị gắn liền giống lúa với đồng ruộng sản xuất, nông dân gắn liền nhau trong HTXNN, cánh đồng mẫu lớn của HTX gắn với doanh nghiệp chế biến gạo có thương hiệu được phân phối trong nước hay xuất khẩu.
    Đối với mặt hàng trái cây, chuỗi giá trị bắt đầu từ việc quy hoạch vùng trồng thích hợp với giống cây ăn trái đặc biệt, mọi nông dân trồng cây ăn trái sẽ gắn liền với một trung tâm xử lý và bảo quản trái cây, để khi thu hoạch họ sẽ đưa trái cây về trung tâm bảo quản đưa nhiệt độ trái xuống 5 độ C trước khi đưa vào kho phân loại kích cỡ, đóng gói bao bì và bảo quản ở 5 độ C chờ đến khi bán cho các siêu thị lúc có giá tốt.
    Thứ ba, những bất cập trong đời sống của nông dân một phần cũng do chính bản thân người nông dân tạo nên. Nông dân ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, manh mún, thích sản xuất tự do, không muốn hợp tác hóa.
    Phần lớn bà con nông dân không được học hành từ căn bản mà rất tự hào vì kinh nghiệm thực tế sản xuất của mình, không thấy và hiểu được những cơ sở khoa học của từng lãnh vực sản xuất, cho nên bà con nông dân làm theo ý mình và theo lời quảng cáo hơn là theo khoa học.
    Do đó, họ phải tốn kém nhiều, đội giá thành sản xuất lên cao nên không lời thỏa đáng, có khi bị lỗ.
    Nếu nông dân chịu khó học hỏi để trở thành nông dân kiểu mới thì họ sẽ sáng suốt hơn trong các quyết định sản xuất, không xa rời HTXNN và chấp nhận thành viên trung thực, thực hiện theo qui trình GAP một cách tự giác trong chuỗi giá trị sản xuất. Được như thế đời sống nông gia sẽ đổi mới ngay.
    GS.TS. Nhà giáo Nhân dân Võ Tòng Xuân hiện là Hiệu trưởng trường ĐH Tân Tạo (Long An). Ông sinh năm 1940 tại Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, nguyên là Hiệu trưởng trường ĐH An Giang.
    GS. Võ Tòng Xuân chuyên nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước, với nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu cây lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng như trong sự nghiệp giáo dục tại vùng này. Ông vinh dự đựơc nhà nước trao tặng rất nhiều danh hiệu cao quý như Anh hùng Lao động (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1986), Nhà giáo Nhân dân (2000), Huy chương vì giai cấp Nông dân Việt Nam (1994)…
    GS. Võ Tòng Xuân (Đại học Tân Tạo, Long An, ngày 10/7/2013)

    Ghi chú: Bài này trên ĐVO hiện nay đã bị gỡ xuống, nhưng hiện nay đã có rất nhiều trang Web đăng lại.

    Những nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới 2012

    Dưới đây là danh sách 10 nền kinh tế mạnh nhất thế giới năm 2012 và một số dự báo trong thập niên tới theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh (CEBR) của Anh đưa ra vào ngày 26/12
    1. Mỹ

    GDP năm 2012: 15.643 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 23.496 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 1
    Mỹ vẫn duy trì vị thế dẫn đầu của mình trên bảng xếp hạng 10 nền kinh tế mạnh nhất thế giới kể từ năm 2000 và có thể giữ vứng thứ hạng này trong 10 năm tới, theo dự báo của CEBR.
    2. Trung Quốc

    GDP năm 2012: 8.249 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 19.516 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 2
    Tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc cho thấy quốc gia này sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thập kỷ tới. Theo CEBR, Trung Quốc vẫn giữ vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng kinh tế của quốc gia này sẽ tăng từ mốc bằng 53% nền kinh tế Mỹ lên 83% vào năm 2022.
    3. Nhật Bản

    GDP năm 2012: 5.936 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 7.375 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 3
    Nhật Bản được CEBR dự báo vẫn duy trì vị trí nền kinh tế thứ 3 thế giới cho tới năm 2022.
    4. Đức

    GDP năm 2012: 3.405 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 4.275 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 6
    Đức là nền kinh tế đầu tàu của châu Âu, đồng thời cũng là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới. Tuy nhiên, theo dự báo của CEBR, Đức sẽ tụt xuống đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng vào năm 2022 do sự phát triển của các nền kinh tế châu Á.
    5. Pháp

    GDP năm 2012: 2.607 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 3.185 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 9
    Pháp hiện đứng thứ 5 trong số 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, theo dự báo của CEBR, Pháp sẽ tụt xuống vị trí thứ 9 vào năm 2022. Kinh tế Pháp đang chịu ảnh hưởng của chính sách thuế 75% do tổng thống Francois Hollande đề ra. Ngoài ra, tình trạng khó khăn chung của eurozone cũng là nhân tố khiến quốc gia này tụt hạng.
    6. Anh

    GDP năm 2012: 2.443 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 4.061 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 8
    Anh đã lấy lại vị trí nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới từ Brazil do đồng nội tệ của quốc gia Mỹ Latinh này yếu đi. Tuy nhiên, theo dự báo, Anh sẽ tụt về vị trí thứ 8 trong vòng 10 năm tới.
    7. Brazil

    GDP năm 2012: 2.282 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 4.389 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 5
    Brazil được dự báo sẽ vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới vào năm 2022.
    8. Italia

    GDP năm 2012: 1.999 tỷ USD
    GDP năm 2022: 2.173 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 13
    Theo dự báo của CEBR, Italia sẽ bị loại khỏi danh sách 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thập kỷ tới và xếp sau Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico vào năm 2022.
    9. Nga

    GDP năm 2012: 1.954 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 4.242 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 7
    Nga vươn đã lên xếp thứ 9 từ vị trí 11 trong bảng xếp hạng năm ngoái. Theo dự báo, quốc gia này sẽ đứng thứ 7 trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2022.
    10. Ấn Độ

    GDP năm 2012: 1.834 tỷ USD
    GDP năm 2022 (dự báo): 4.935 tỷ USD
    Vị trí xếp hạng năm 2022 (dự báo): 4
    CEBR dự báo Ấn Độ sẽ vươn lên đứng thứ 4 từ vị trí hiện tại trong bảng xếp hạng các nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2022.

    STT
    Quốc gia
    GDP 2012
    (tỷ USD)
    Dân số
    (Triệu người)
    Bình quân
    (USD/người)
    1
    Hoa Kỳ
             15.643
    318,0
    49.192
    2
    Trung Quốc (*)
               8.249
    1.358,3
    6.073
    3
    Nhật Bản
               5.936
    126,4
    46.962
    4
    Đức
               3.405
    81,9
    41.575
    5
    Pháp
               2.607
    63,7
    40.926
    6
    Anh
               2.443
    62,0
    39.403
    7
    Brazil
               2.282
    199,7
    11.427
    8
    Italy
               1.999
    60,6
    32.987
    9
    Nga
               1.954
    142,6
    13.703
    10
    Ấn Độ
               1.834
    1.272,1
    1.442

    (*) Tỷ giá của TQ được ấn định bởi Chính phủ (determine by fiat) hơn là bằng các yếu tố thị trường, do vậy tỷ giá hối đoái chính thức để tính GDP không phản ánh chính xác sản phẩm đầu ra của nước này; trong trường hợp của TQ, GDP tính theo cân bằng sức mua (PPP) sẽ phù hợp hơn để so sánh với các quốc gia khác.

    VN nên rút kinh nghiệm từ công ty quốc doanh của Malaysia, Singapore

    Việt Nam nên cứu xét việc theo mô thức của công ty Temasek Holdings Pte và công ty Khazanah Nasional Bhd. của Malaysia, trong nỗ lực đẩy mạnh năng suất tại các công ty do nhà nước sở hữu.
    Hãng tin tài chính Bloomberg trích lời Giám đốc tại Việt Nam của công ty McKinsey & Co, ông Marco Breu, đề nghị Việt Nam nên rút tỉa kinh nghiệm từ sự thành công của các công ty của Malaysia và Singapore.

    Marco Breu - GĐĐH của McKinsey tại Việt Nam
    Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Bloomberg, ông Breu nói rằng hai công ty của Malaysia và Singapore đã tạo ra một khoảng cách giữa chính quyền và các công ty quốc doanh, và để cho các công ty này tự quản lý với các nhà quản trị chuyên nghiệp, chỉ nhắm vào các ưu tiên doanh thương, chứ không nhắm vào bất cứ mục tiêu nào khác.
    Việt Nam đang tìm cách nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh và tại các công ty quốc doanh trong bối cảnh đà tăng trưởng kinh tế sút giảm, sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 2011 nói rằng các công ty do nhà nước sở hữu đã trở thành “một gánh nặng”.
    Chính phủ Singapore thành lập công ty Temasek hồi năm 1974 để cổ vũ cho việc phát triển các công ty nhà nước, kể cả công ty viễn thông quốc gia, và hãng hàng không Singapore.

    Temasek Holdings - Singapore
    Singapore và Malaysia cho phép các công ty đầu tư nhà nước áp dụng đường lối quản trị tương tự như tại các công ty tư nhân, và nâng cao tiêu chuẩn quản lý. Hai nước đã thành công trong việc tư hữu hóa các công ty nhà nước bằng cách bán cổ phần của các công ty do nhà nước sở hữu, rồi tái đầu tư ra nước ngoài.
    Theo các số liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế, Việt Nam năm nay đề ra chỉ tiêu phát triển là 5,5%, đây sẽ là lần đầu tiên trong 3 năm liên tiếp, đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn 6%, kể từ năm 1988.

    Giám đốc tại Việt Nam của công ty McKinsey & Co, ông Marco Breu, nói rằng các chính quyền gặp khó khăn trong việc giao nhiều quyền độc lập hơn cho các công ty quốc doanh bởi vì các công ty này thường là những công cụ để thi hành các chính sách của nhà nước.

    Thuế và phí: Chưa kịp vui đã buồn

    (Doanhnhansaigon) - Doanh nghiệp và người tiêu dùng chưa kịp vui với phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt và lệ phí trước bạ cho ô tô con thì trong lộ trình phát triển ngành công nghiệp ô tô giai đoạn 2020 - 2030 đang được Bộ Công Thương bàn thảo đã buồn với dự thảo về quản lý và sử dụng phí đường bộ mà Bộ Tài chính đang lấy ý kiến.


    Hai tuần trở lại đây, các doanh nghiệp, đại lý và người mua xe phấn khởi trước thông tin Bộ Công Thương đề xuất phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt và lệ phí trước bạ ô tô con cho lộ trình phát triển ngành công nghiệp ô tô giai đoạn 2020 - 2030. Nếu phương án này được thông qua thì việc giá xe sẽ giảm trong những năm tới là có thể xảy ra.
    Theo phương án của Bộ Công Thương, thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô dưới 10 chỗ được đề xuất giảm 50%, lệ phí trước bạ đăng ký lần đầu giảm 50%. Điều này đồng nghĩa với việc thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô dưới 10 chỗ sẽ còn từ 22,5 - 30% và lệ phí trước bạ với ô tô đăng ký lần đầu là 5 đến 7,5% so với hiện nay.
    Việc điều chỉnh thuế, phí của Bộ Công Thương được cho là sẽ cứu ngành công nghiệp ô tô trong bối cảnh thuế nhập khẩu xe ngoại sẽ giảm dần về 0% từ nay tới 2018 theo lộ trình cam kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA).
    Nếu cả hai loại thuế, phí này được giảm đúng như đề xuất, đặc biệt là phí trước bạ, chi phí mua xe của người dân chắc chắn sẽ giảm và chi phí sở hữu xe nhập sẽ rẻ hơn so với xe sản xuất trong nước.
    Trong khi đề án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt và lệ phí trước bạ vẫn còn đang bàn thảo, người mua - bán xe chưa kịp vui thì mới đây, Bộ Tài chính lại lấy ý kiến cho dự thảo thông tư hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ.
    Theo biểu phí do Bộ Tài chính xây dựng trong dự thảo, các loại ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi và xe chuyên dùng có tổng trọng lượng dưới 4 tấn sẽ chịu mức thu phí nằm trong khung 10.000 - 35.000 đồng/lượt; xe tải, xe chở hàng bằng container và ô tô chuyên dùng có tổng trọng lượng từ 27 tấn trở lên áp dụng mức phí từ 80.000 - 200.000 đồng/lượt.
    Mức thu cụ thể đối với quốc lộ sẽ do Bộ Tài chính quy định, còn mức thu cụ thể đối với đường địa phương sẽ do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhằm phù hợp với cấp đường và độ dài đoạn đường thu phí theo dự án đầu tư được duyệt và đề nghị của chủ đầu tư. Dự kiến loại phí sử dụng đường bộ này sẽ được áp dụng trong năm sau.
    Như vậy, với dự thảo mới này, người sử dụng ô tô phải chịu cùng lúc"một cổ ba tròng": phí thu theo đầu phương tiện quy định tại Nghị định 18/2012/NĐ-CP của Chính phủ; phí sử dụng đường bộ theo lượt tại hệ thống các trạm thu phí BOT và trạm chuyển giao quyền thu phí; phí sử dụng đường bộ hoàn vốn đầu tư xây dựng đường bộ.
    Quả là chưa kịp vui đã buồn vì phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt và phí trước bạ còn ở thì tương lai thì dự thảo về phí đường bộ sẽ được áp dụng trong 2014 tới.

    Mạo hiểm hay may mắn tạo nên giàu có?

    (Doanhnhansaigon) - Vai trò của may mắn đối với giàu có không còn là vấn đề mang tính chất hàn lâm mà còn liên quan đến chính trị.


    Nếu chúng ta kết luận rằng giàu có được tạo nên từ làm việc chăm chỉ, dám chấp nhận rủi ro và có những ý tưởng tuyệt vời, rõ ràng người giàu không nợ gì xã hội.
    Tuy nhiên, nếu như giàu có chỉ đơn giản là do may mắn, hoặc họ có được khối tài sản kếch xù là do dựa vào cơ sở hạ tầng vốn được tài trợ bởi ngân sách quốc gia, người giàu mắc nợ xã hội và phải trả nợ bằng thuế hay các hoạt động từ thiện.
    Mùa hè năm ngoái, cuộc tranh luận về may mắn và làm việc chăm chỉ, tự thân vận động hay nhờ vào xã hội đã trở thành điểm nóng với bài phát biểu tại ĐH Priceton của Michael Lewis.
    Là cây bút chuyên viết về tài chính, Lewis cho rằng thành công thường đến từ may mắn và những tình huống được cho là ngẫu nhiên. Những người thành công thường “hợp lý hóa” thành công của họ bằng cách cho rằng thành công đến từ tài năng, quá trình làm việc hoặc trí thông minh.
    Sau đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama khơi lại cuộc tranh luận trong chiến dịch tranh cử. Nhiều người cho rằng ông Obama đã đi chệch hướng khi nói về đường sá, cầu cống và các ngôi trường công. Tuy nhiên, lập luận của ông Obama vẫn làm dấy lên cuộc tranh luận về việc nhà giàu phải trả mức thuế “công bằng hơn”.
    Tuy nhiên, người giàu nghĩ gì về bản thân họ? Khảo sát từ hãng nghiên cứu Spectrem Group cho thấy trong khi một số người cho rằng may mắn đóng vai trò quan trọng trong thành công của họ, rất nhiều người cũng khẳng định lao động chăm chỉ, giáo dục và chấp nhận rủi ro đóng vai trò quan trọng hơn.
    Trong số những người có tài sản từ 5 triệu USD trở lên, hơn 98% cho rằng lao động chăm chỉ là “nhân tố tạo nên sự giàu có”. Hơn 90% đánh giá cao yếu tố giáo dục. Các yếu tố quan trọng khác lần lượt là “đầu tư thông minh”, “tính căn cơ tiết kiệm” và "chấp nhận rủi ro”.
    Hơn một nửa số người tham gia khảo sát cho rằng họ đã “ở đúng chỗ vào đúng thời điểm”. Tuy nhiên, nhân tố này kém quan trọng hơn nhiều so với yếu tố làm việc chăm chỉ và giáo dục.
    Tuy nhiên, trong số các ông chủ, số người tự cho rằng họ giàu có nhờ may mắn cao hơn nhiều. 79% cho rằng họ đã “ở đúng chỗ vào đúng thời điểm”. 50% cho rằng may mắn là yếu tố quyết định.
    Có thể rút ra kết luận gì từ những con số trên? Theo George Walper, chuyên gia đến từ Spectrem Group, các dữ liệu cho thấy sự cân bằng. Một số người nhận ra thành công của họ đặc biệt dựa vào may mắn. Tuy nhiên, một số người không nghĩ như vậy. Có thể, cái tôi đóng vai trò quá quan trọng đối với những người đánh giá thấp vai trò của may mắn.

    Gửi Thống đốc trước phiên trả lời chất vấn vàng, nợ xấu

    (Đời sống) - Hôm nay (30/5/2013), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội, qua đây có một số vấn đề cần gửi tới Thống đốc, mong được giải đáp.
    Quản lý thị trường vàng, hay giúp ngân hàng thương mại?


    Cách đây một năm, trước sự lên xuống bấp bênh của giá vàng trong nước vì theo giá thế giới, và sự chênh lệch của giá luôn duy trì ở mức 500.000 – 1 triệu đồng/lượng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng như thế là “không ổn”, có sự đầu cơ làm giá, làm gia tăng nhập lậu vàng, nên tuyên bố chênh lệch giữa giá vàng trong nước - thế giới chỉ cần 400.000 đồng là hợp lý.
    Và để thực hiện điều này, NHNN từng bước độc quyền thương hiệu vàng miếng SJC, độc quyền nhập khẩu, và tham gia mua – bán vàng miếng. Qua từng bước đi của NHNN, các thương hiệu vàng khác dần biến mất chỉ còn vàng miếng SJC, rồi giá vàng trong nước cứ nới dần khoảng cách với giá vàng thế giới lên 2 rồi 3 triệu đồng mỗi lượng. Tới cuối tháng 3/3013, khi NHNN chính thức tham gia bán vàng thông qua việc đấu thấu vàng miếng SJC, chênh lệch chẳng những không được thu hẹp như tuyên bố trước đó của NHNN mà còn tiếp tục nới rộng thêm, thường duy trì “ổn định” ở mức chênh lệch từ 3-5 triệu đồng mỗi lượng, thậm chí có thời điểm lên tới 7 triệu đồng/lượng.
    Khi tham gia đấu thầu vàng, NHNN luôn đưa ra giá bằng hoặc cao hơn giá thị trường, giá này cao hơn thế giới vài triệu đồng, phần tiền chênh lệch đó sau nhiều tháng để dư luận đồn đoán, đầu tháng năm vừa rồi Thống đốc mới lên truyền hình giải thích tiền đó ngân sách được hưởng.
    Rồi người ta đặt câu hỏi, ai mua vàng của NHNN nhiều nhất, và thống kê đưa ra là các ngân hàng thương mại, mua để tất toán trạng thái cho kịp thời hạn 30/6. Vậy xin hỏi Thống đốc, phải chăng việc độc quyền vàng là để NHNN tham gia bán vàng cho ngân hàng thương mại, vì thực tế thị trường vàng biến động mạnh vì các ngân hàng thương mại tăng thu mua, làm vàng trên thị trường khan hiếm, đẩy giá thành lên cao. Trong khi huy động vốn tín dụng tại các ngân hàng thương mại tăng, nhưng tín dụng cho vay lại không tăng tương ứng, và lời giải là tiền được dùng để mua vàng.
    Đặt vấn đề nếu NHNN không tham gia đấu thầu vàng, thì chưa biết các ngân hàng thương mại sẽ còn đẩy giá vàng lên bao nhiêu nữa, khi tính từ cuối tháng 3 tới nay, NHNN đã bán ra khoảng 21 tấn vàng. Và cũng chưa biết các ngân hàng thương mại sẽ làm sao để tất toán trạng thái vàng trước 30/6, hay lại như các thời hạn trước, là cho hoãn, giãn tiếp. Việc NHNN đấu thầu vàng thật sự là một cái “phao cứu sinh” được tung ra để các ngân hàng thương mại bấu víu. Chứ nếu không có đấu thầu, chẳng biết tới bao giờ các ngân hàng thương mại mới gom đủ số vàng cần thiết, lúc đó giá vàng chưa biết sẽ đi tới đâu.
    Nhưng có một số phiên đấu thầu dù giá không khác các phiên trước và sau đó, nhưng lại không bán được, điều này khiến nhiều người nghĩ thật sự đang có thị trường vàng tốt, khi NHNN đưa giá hợp lý sẽ bán được, không thì ế, nghe ra cũng rất cạnh tranh, lên – xuống rất thị trường. Nhưng nhiều người lại nghi nghờ đấy chỉ là một cách cạnh tranh có “tính toán” của NHNN?
    Ngày 30/3, tại phiên họp Ban chỉ đạo công tác phòng chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại (Ban chỉ đạo 127), thiếu tướng Nguyễn Tiến Lực, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an) khẳng định, vàng SJC đã được hưởng lợi từ chính sách coi SJC là thương hiệu vàng miếng quốc gia, trong khi những thương hiệu khác bị phương hại. Đồng thời xuất hiện tình trạng vàng giả SJC, vàng kém chất lượng đưa vào các doanh nghiệp kinh doanh để bán cho dân.
    Sau đó thiếu tướng Lực có nói thêm với tờ Tuổi trẻ rằng, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ nắm bắt tình hình, điều tra về tình trạng vàng giả SJC, vàng kém chất lượng đưa vào bán cho dân.
    Vì vậy, ở đây đặt ra câu hỏi với Thống đốc rằng, thiệt hại của những doanh nghiệp khác khi độc quyền vàng miếng SJC sẽ do ai chịu trách nhiệm?
    Trong báo cáo tổng hợp kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 5 của Quốc hội của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nêu rõ: “Tình trạng giá vàng trong nước chênh lệch quá lớn với giá vàng thế giới hiện nay dẫn đến sự băn khoăn, thiếu tin tưởng của cử tri và nhân dân về năng lực của cơ quan nhà nước hữu quan trong việc quản lý điều hành thị trường vàng”.
    Cử tri cũng bày tỏ sự lo lắng trước tình hình bất ổn của thị trường vàng, việc Ngân hàng Nhà nước tham gia bình ổn thị trường vàng nhưng chưa đạt hiệu quả cao, chưa kéo được chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế, gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước và việc sử dụng vàng.
    Đề nghị của nhiều công dân với Nhà nước là cần có giải pháp hiệu quả để quản lý thị trường vàng trong nước với chủ trương là không khuyến khích đầu tư vàng, kéo giảm sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế; có kế hoạch dự trữ vàng quốc gia để dự phòng trong những trường hợp cần thiết.
    Giải cứu thị trường bất động sản, mua nợ xấu

    Không chỉ giúp các ngân hàng thương mại gom được vàng để tất toán, NHNN còn tung ra gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng để hỗ trợ vay mua nhà và vay xây nhà ở xã hội.
    Việc này được kỳ vọng là khơi thông thị trường, mà quan trọng hơn, theo nhiều người đó là phá băng thị trường bất động sản, cái được chuyên gia được xem “xấu hơn nợ xấu”, vì trước đây các ngân hàng đã cho vay mua, xây nhà rất nhiều, giờ thị trường đóng băng, nguồn vốn vay không thể thu hồi được, và nếu tiếp tục, phá sản thì ngân hàng thương mại sẽ thiệt hại rất lớn.
    Và xin lưu ý rằng, như ông Nguyễn Bá Thanh từng nói nhiều lần, trong quá trình định giá bất động sản cho vay, ngân hàng đã định giá cao hơn giá trị thật nhiều lần để cho vay số tiền lớn – thậm chí cao hơn cả giá trị thật của tài sản thế chấp, nên giờ nếu thị trường không được khơi thông, ngân hàng có lấy tài sản thế chấp về vẫn “nguy to”, khi nếu có bán vẫn không thể thu hồi được tiền vốn vay. Vì vậy nếu thị trường bất động sản được khơi thông, các ngân hàng thương mại may ra sẽ giảm bớt được một phần thiệt hại.


    Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị và một số tỉnh phản ánh ý kiến cử tri cho rằng có vấn đề lợi ích nhóm trong việc giải cứu thị trường bất động sản. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét lại vì sao Nhà nước phải đứng ra giải cứu thị trường bất động sản, có phải chăng do một số người có cổ phần trong đó nên có những hoạt động chi phối nhằm phục vụ cho lợi ích của mình hay không?
    Ngay cả việc thành lập Công ty mua bán nợ quốc gia, một mục đích chính cũng là để mua bán lại các khoản vay để đầu tư bất động sản, tái cấp vốn cho các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động trước nguy cơ phá sản hiện hữu, khi đã 3 năm qua thị trường bất động sản vẫn nằm im. Và nếu doanh nghiệp phá sản thì hệ lụy với các ngân hàng là không nhỏ, nguy cơ đổ vỡ ngân hàng cũng đã được các chuyên gia tính tới. Và câu hỏi được đặt ra, tại sao lại phải cứu những ngân hàng yếu kém.
    Cũng phải nói thêm rằng, người dân có nhu cầu mua nhà, nhưng giá nhà quá cao, diện tích căn hộ quá lớn, giờ nếu công ty mua bán nợ quốc gia mua lại các khoản nợ bất động sản, vậy giá bất động sản sẽ thế nào? Nếu giá tiếp tục giảm, thì kinh doanh của công ty này sẽ lỗ, và như thế là gây thất thoát cho ngân sách nhà nước; còn nếu giá bất động sản không giảm đảm bảo công ty mua bán nợ hòa vốn hoặc có lãi, tức là giá nhà phải được duy trì mức hiện tại thậm chí phải tăng cao hơn trong thời gian tới, nếu như vậy kỳ vọng giá bất động sản tiếp tục giảm xem ra khó thành, giấc mơ có nhà với nhiều người lại càng trở nên xa vời hơn.
    Trong 1, 2 năm gần đây NHNN đã nhiều lần thanh tra các ngân hàng được cho là “yếu kém”, tuy kết quả thanh tra không được công bố, nhưng sau đó một số ngân hàng đã buộc phải tái cơ cấu, sát nhập để tránh phá sản vì những khoản cho vay gần như không thể thu hồi.



    Trong khi NHNN đang tập trung cho thị trường vàng, bất động sản, nhà băng, thì các doanh nghiệp sản xuất – đối tượng chính kích thích nền kinh tế, tạo việc làm, xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước… lại được đánh giá là khó tiếp cận vốn vay để duy trì, mở rộng sản xuất, hoặc phải vay vốn với lãi suất cao (thời gian gần đây lãi vay có giảm nhưng vẫn còn cao). Và chắc chắn, nhiều doanh nghiệp phá sản một phần là do không vay được vốn để tiếp tục hoạt động nên đành đóng cửa. Còn sức mua của người dân tiếp tục giảm, khi đã phải móc những đồng tiền cuối cùng.

Thư giãn